Tâm khởi phát cho mọi sự đau khổ và hạnh phúc của con người. Người có tâm ắt hưởng phúc lành.
Ở đời, chữ “tâm” thường được sử dụng để hướng suy nghĩ đến cái thiện, sự tu tâm dưỡng tính, sống một cách tích cực và làm nhiều điều thiện. Khi tâm lệch lạc thì cuộc sống sẽ điên đảo.
Để hiểu hết về ý nghĩa của chữ “tâm” này, chúng ta hãy cùng nghe những lời Phật dạy:

Ý nghĩa của chữ “Tâm”
Tâm (心) có nghĩa là trái tim, lòng dạ và lương tâm của mỗi con người. Mọi hành động của chúng ta đều xuất phát từ cái tâm. Do đó, nếu con người có tâm thiện thì suy nghĩ và hành động đi theo đúng đạo lí, lẽ phải. Ngược lại, nếu tâm không lành thì sẽ sinh ra tà ý, từ đó dẫn đến hành vi (hành động) tội lỗi, xấu xa.
Chữ Tâm thường được dùng để hướng suy nghĩ của chúng ta đến cái thiện, tu thân, dưỡng tính, sống tích cực và làm điều thiện lành.
“Tâm lệch lạc thì cuộc sống đảo điên.
Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá”.
Chữ Tâm luôn gắn liền với đạo Phật:
“Nương theo giáo pháp Phật Đà
Chữ Tâm Phật dạy giúp ta độ đời
Đến bờ giác ngộ thảnh thơi
Xa rời phiền não cuộc đời an vui”.
Đức Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh. Chúng sinh chẳng nhận thấy được vì bị vô minh che lấp” (Trích: Kinh Đại bát Niết bàn). Câu này có nghĩa là: Mọi người sinh ra đều có bản tâm thanh tinh, trong sáng tròn đầy, vắng lặng. Nhưng vì bị ngoài cảnh chi phối, tâm luôn bị xao động, thành ra tâm trí bất an điên đảo, tạo tội tạo nghiệp trong vòng luân hồi bất diệt.

Tiếp đó: “Một khi chỉ một thoáng tâm sân hận khởi lên mà chúng ta không kiềm chế khắc phục được thì lập tức muôn ngàn đau khổ chướng ngại tiếp nối theo sau”.
Theo quan điểm nhà Phật, Tâm không tồn tại dưới dạng vật chất nên không thể nắm bắt được; nhưng không có tâm thì vật chất là vô nghĩa, vô tri vô giác.
Một con người được định nghĩa bao gồm thân và tâm, trong thuật ngữ Phật học còn gọi là danh và sắc. Bình thường, con người ta chỉ nhìn thấy hình sắc (tức là thân thể) mà không thấy được tâm tư, nhưng có thể cảm nhận được tình cảm. Khi căn môn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc với trần cảnh là các đối tượng tương ứng với mỗi giác quan, thì tâm thức sinh khởi để “chế tác” các thông tin đã ghi nhận được.
Tâm chính là gốc của thân, tâm có yên thì gốc mới vững vàng; thân thể này sở dĩ bị bệnh hoạn là do tâm bị vô minh che lấp. Muốn thân thể khỏe mạnh, ít bệnh hoạn con người chỉ cần nỗ lực làm cho tâm lặng lẽ, sáng trong. Ngược lại, nếu tâm tham lam ích kỷ, giận hờn trách móc, ganh ghét tật đố, cuồng si điên loạn và lo lắng sợ lãi; tất sẽ làm cho thân thêm bệnh hoạn vì lúc này tâm đã bị vẩn đục.
Để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực cần bắt đầu từ tâm, phải sửa mình, tu tâm dưỡng tính, làm việc thiện lành nhằm đạt tới sự giải thoát.
Có 6 loại tâm trong Phật:
– Nhục đoàn tâm: Trái tim thịt.
– Tinh yếu tâm: Chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tủy.
– Kiên thực tâm: là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tính giác ngộ tuyệt đối, bất biến, vốn sẵn có của mỗi người chúng ta, đó là Phật tính.
– Liễu biệt tâm: gồm sáu thức đầu trong tám thức, tức là năm thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của chúng là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng ngoại cảnh và phân biệt nhận thức.
– Tư lượng tâm: Bản chất của tư lượng tâm là suy tính. Nó được xem là một khía cạnh của tâm mà con người không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường làm phát sinh mâu thuẫn trong những quyết định tâm thức và không ngừng chấp dính vào bản ngã.
– Tập khởi tâm: Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý, là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu tình hay vô tình.
Lời Phật dạy về chữ Tâm
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, lời Phật dạy về chữ tâm như sau: “Tùy tâm biến hiện”. Nghĩa là mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay trái, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không nơi nào giống với nơi nào.
Có câu: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an thì cảnh ngộ nào cũng an”. Cùng một cảnh như vậy, nhưng tâm tư phiền muộn thì liệu rằng chúng ta có thấy cảnh vui? Hoặc, khi tâm trạng con người hân hoan thì dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp tươi như thường. Cùng một câu chuyện, chúng ta ưa thích thì cho là đúng, ngược lại không ưa liền cho là sai. Cái tâm sanh diệt, thay đổi bất thường như vậy, không phải là cái tâm chân thực của chúng ta.
Đức Phật có dạy:
“Căn bản của sanh tử luân hồi là: Vọng tâm.
Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân tâm”.
Chúng sanh sở dĩ bị trầm luân sanh tử, bởi vì mỗi ngày luôn luôn sống với vọng tâm, tức là tâm lăng xăng lộn xộn, luôn luôn thay đổi, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi khen khi che, khi tán thán khi phê bình.
Bản tâm thanh tịnh hay chân tâm thường hằng, vĩnh viễn, luôn luôn hiện hữu mà người nào cũng có thì không sinh không diệt. Chỉ có vọng tâm: tham lam, sân hận si mê, mới có sanh và diệt, mà thôi.
Chẳng hạn, khi gặp chuyện bất như ý, tâm liền khởi sanh bực tức oán giận. Lúc đó, con người chúng ta quên mất bản tâm thanh tịnh của mình, tức là quên mất mình là ai, chỉ biết tức tức giận giận. Lâu sau nguôi dần, tâm trở lại bình thường, tâm sân hận diệt đi, không còn nữa. Sanh diệt có nghĩa là như vậy.
Khi tâm từ bi, con người chúng ta dễ cảm thông với muôn loài. Do đó, tâm giận tức, tâm sân hận có thể giảm bớt, nhẹ bớt đi. Khi có tâm hỷ xả, chúng ta sẽ bớt được tâm ganh tị, tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp. Cho đến khi nào tứ vô lượng tâm tròn đầy, vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại thì chân tâm sẽ hiển hiện.
Khi tâm khởi niệm, nếu giác kịp thời, liền biết không theo, đó là chân tâm. Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành vọng tâm. Điều đáng quan trọng không phải là vọng tâm thay đổi bất chợt, mà chính là cái chân tâm, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, của tất cả chúng ta vậy.
Con người có thể biết mọi sự việc bên ngoài một cách rõ ràng mạch lạc. Nhưng lại không biết, không hiểu trong tâm trí của chính mình. Cái tâm ý điên đảo đảo điên, cái vọng tưởng lăng xăng lộn xộn, tạo tội tạo nghiệp này, là nguyên nhân chính dẫn con người vào vòng sanh tử luân hồi.

Theo Kinh Pháp Cú: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo, nếu với tâm ô nhiễm, nói lên hay hành động, khổ não sẽ theo ta”.
Lời Phật dạy: Tâm làm chủ, tức là nói đến cái biết của con người trong việc xã định tâm làm chủ tạo ra các nghiệp tốt hay xấu. Nếu biết cách vận dụng tâm, chúng ta sẽ thoát khỏi nỗi khổ luân hồi sinh tử, bằng không sẽ sống trong đau khổ lầm mê.
Tâm suy nghĩ chân chính sẽ phát sinh ra hành động tốt đẹp. Tâm suy nghĩ tà thì phát sinh ra những hành động ác, xấu. Thân hành động tốt hay xấu đều do tâm chủ động điều hành nên tâm là quan trọng hơn hết, không có tâm thân này như phế bỏ.
Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật dạy chữ tâm: “Nếu thường xuyên giữ được chánh niệm, tâm không loạn động, dứt trừ được phiền não, thì chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề”. Người tu tập phải luôn luôn quán sát tâm chính mình, giữ gìn chánh niệm, khi vọng tâm vọng tưởng vọng thức vọng niệm khởi lên, liền biết, không theo.
Nhờ đó tâm được an nhiên tự tại, không loạn động, dứt trừ được phiền não, nhờ công tu tập đó, chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề. Thọ nhiều thì khổ nhiều, chấp nhiều thì mệt nhiều. Buông xả thì thanh thản, tha thứ thì thư thái. Tuy chuyện rất đơn giản, thực hành không dễ dàng, nhưng không phải bất khả.
Hiểu lời Phật dạy về chữ Tâm giúp mỗi người thức tỉnh cuộc đời. Khi bạn gieo những tâm tốt đẹp sẽ nhận trái ngọt, cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, đơn giản, bình dị nhưng không kém phần hạnh phúc. Ngược lại, những người luôn mang những tâm xấu xa, nghi kỵ đến mọi nơi thì sống trong tiền bạc, nhung lụa cũng chẳng thể vui vẻ, hạnh phúc được.
